Chương 3: Nghiệt Duyên Không Dứt
“Cái nhà này làm gì dư dả để nuôi hạng gà mái không biết đẻ!” “Mẹ à, sao mẹ nói năng khó nghe vậy chứ?” “Mẹ nói có gì sai à?” “Ôi giời ơi, mấy năm trước đã bảo đừng rước cái của nợ ấy về. Mày có chịu nghe đâu, cứ đòi nằng nặng. Giờ thì hay rồi, đến một mụn con cũng chẳng có, mày muốn mẹ nói sao với ông bà, tổ tiên?” “Mẹ! Chưa có thì rồi sẽ có, bọn con mới hai chín, vội vàng làm gì?” “Chưa có rồi sẽ có? Mày nói dễ nghe quá nhỉ! Cưới nhau năm năm trời không có thì sau này chắc gì đã được! Hạng gà mái không con này, nếu là ngày xưa, người ta lót lá trả về từ lâu rồi!” Vẫn là vì vô sinh… Thục Tư dựa lưng vào cánh cửa gỗ, thở ra một hơi nặng nề. Bà Hồng bên ngoài vẫn lồng ruột lên chửi, chửi càng lúc càng ngoa. Cánh cửa sau lưng nàng rung lên khe khẽ, giống như vừa bị thứ gì đó ném vào. Nghe tiếng lầm rầm ở ngoài nhà, Thục Tư không cần nghĩ nhiều cũng đã đoán ra. Cái nhà này tư tưởng vẫn khá cổ hủ, năm ngoái chị dâu nàng sinh đứa con gái thứ ba đã bị đay nghiến đến mức phải bỏ về nhà mẹ đẻ. Lần này… xem chừng vài ngày nữa đơn ly hôn sẽ tới tay thôi. Thục Tư vuốt vuốt đôi mắt đỏ ngầu, chậm rãi mở tủ thu xếp quần áo, cẩn thận đưa hết vào trong vali… Năm năm trước, có người bất chấp gia đình ngăn cản, một mực cưới Thục Tư. Nhưng ngày một ngày hai thì được chứ cả đời thì mấy ai chịu nổi. Con trai nói thế nào vẫn là máu mủ của mẹ, yêu thương đến mấy cũng đâu thể mãi mãi đứng về phía vợ. Một ngàn năm rồi, có người đàn bà vẫn không thể thoát khỏi số mệnh hiếm con của mình. Và lần nào cũng vậy, vì hiếm con mà bị người người ruồng bỏ. Thục Tư đạp qua lớp lá khô trên vỉa hè, nghe âm thanh sột soạt mà trong lòng càng thêm cô quạnh. Sống một cuộc đời mới đáng lẽ sẽ rất tốt, nhưng nếu gả cho một người khác, nàng có lẽ sẽ an nhàn cả đời. Người chồng ấy của nàng rất tốt, tốt hơn kẻ họ Mạc kiếp trước hàng vạn lần. Chỉ tiếc hoàn cảnh không cho phép, không thể ở bên nhau đến cuối đời. Cuối mùa thu, thủ đô bắt đầu đón những cơn gió heo may. Trong không khí hình như còn phảng phất hương cốm dìu dịu, không biết là từ con ngõ nào. Chiều thu hôm ấy, Thục Tư nhận được điện thoại từ phía cấp cao, nàng không dám chần chừ, lập tức bắt taxi tới cố đô. Chiến tranh trăm năm trước đã tàn phá đô thành không ít, những gì được lưu lại cũng chẳng còn nhiều. Mấy nhà khảo cổ tốn không ít công sức mới tìm được một chút manh mối từ trong đống đổ nát. Ghi chép về các triều đại ngày trước thất lạc khá nhiều, những gì sót lại gần như chỉ còn là các câu chuyện giai thoại truyền miệng và mấy cuốn sử ký khô khan. “Năm Nhâm Thìn dùng bùa chú hãm hại Hoàng tử… sau đó bị giáng xuống làm Thần phi…” - Cô gái có mái tóc nhuộm màu xanh rêu vừa di tay vào bản sao của cuốn sử ký vừa chậm rãi đọc lên. Nghe thấy tiếng bước chân, cô ta cũng không hề quay sang, thậm chí còn cất giọng than vãn. - “Thật là, tra tới mấy cuốn rồi cũng chỉ có bằng ấy chữ.” “Chị Linh, lần này công việc liên quan tới nhân vật thần bí gì sao? Chăm chú đến mức ấy, chẳng lẽ lần này khó hơn?” - Thục Tư hạ chiếc áo khoác xuống, kéo cái ghế gỗ lại gần nhóm trưởng. Đỗ Hạnh Linh vẫn chẳng rời mắt khỏi tư liệu lấy nửa giây, chỉ chép miệng một cái rồi đáp lại: “Còn ai được nữa chứ, chính là Thuần Dương Thuận Từ Hoàng hậu đấy. Nếu không phải kế hoạch làm phim tài liệu sắp tới, chị còn lâu mới phải căng mắt ra tìm hiểu thế này.” Nghe thấy cái tên đó, Thục Tư sững người lại, giống như bị một nhát dao cắm trúng tim đen. Cô gái tóc xanh bên cạnh cơ hồ chưa nhận ra được điểm gì bất thường, vẫn lên tiếng hậm hực: “Tư liệu ghi chép về bà không rõ là bị chiến tranh làm thất lạc hay thật sự lúc ấy vì cấm kỵ nên không ghi nữa. Tên tuổi, xuất thân thật đều bị ẩn, ngoài thụy hiệu và sự cố liên quan đến chuyện phế hậu, hoàn toàn không biết thêm được gì cả.” “Em tưởng chúng ta nhận nghiên cứu triều Ngô, sao bỗng dưng lại đổi thành triều Mạc?” - Thục Tư đưa tay mân mê tờ giấy cũ, cất giọng nhẹ nhàng hỏi Hạnh Linh Có một số chuyện không chỉ là cấm kỵ đối với triều Mạc, mà còn là cấm kỵ đối với cô. Cả triều Mạc sau đó không có ai dám nhắc tới một chữ Bùi, cũng như Thục Tư không dám nghe cũng chẳng dám nhắc tới cái tên Thuần Dương Thuận Từ. Có điều, thế hệ sau này làm sao mà biết, cổ nhân càng muốn giấu, họ càng muốn tìm hiểu. Bốn từ “không có đức hạnh” ấy căn bản chưa đủ thỏa lòng người đời. Thục Tư đầu thai, nhưng vẫn mơ hồ nhớ được một số chuyện kiếp trước. Nghĩ tới có ngày đích thân tiếp nhận công việc tìm hiểu lai lịch của bản thân mình, cô không biết nên khóc hay nên cười. “Đúng rồi! Mặc dù không tra được tư liệu có giá trị về vị Hoàng hậu ấy nhưng bù lại, chúng ta tìm được cái này ở cố cung!” - Hạnh Linh hớn hở lấy hai cuộn giấy cũ từ trong cốp tủ ra, đẩy tới trước mặt cô. Thục Tư bị vẻ mặt hào hứng này của cô ta làm cho bật cười. “Đâu nào, để em xem là cái gì…” - Cuộn giấy vừa mới trải ra, nhìn thấy nét mực cũ bên trong, Thục Tư lập tức trở nên cứng đờ. Cuộn giấy này ở lâu trong cố cung, bị không khí ẩm mốc làm cho biến chất, nhưng từ nét mực nhàn nhạt bên trong, nàng vẫn có thể nhận ra được vẻ cương nghị của một người đàn ông. Có điều, chưa kịp nhìn kỹ mặt mũi, cốc trà sữa uống dở trên bàn bỗng bị một cơn gió mạnh hất đổ. Nước lênh láng trên mặt bàn, làm ướt đẫm bức tranh cổ, hoàn toàn không thể nhìn thêm được bất cứ thứ gì. “Chân dung của Mạc Minh tông! Trời ơi…” - Đỗ Hạnh Linh hét lên một tiếng kinh hãi, hốt hoảng cầm lấy khăn giấy bên bàn, tìm cách thấm hết nước đi. Phải biết hai bức tranh này, khó khăn lắm mới được mấy nhà khảo cổ tìm thấy trong chiếc hộp gỗ chôn dưới sàn đá cố cung. Những thứ liên quan tới triều Mạc đã bị thất lạc rất nhiều, làm hỏng bức tranh này, sợ là cô ta có mấy chục tỷ cũng không đền nổi. “Chị Linh, chị có nghĩ Thuần Dương Thuận Từ Hoàng hậu thật sự thất đức nên mới bị trừng phạt không?” - Thục Tư bỗng nhiên hỏi, đáy mắt mịt mù đến khó tả, mà câu hỏi kia cũng chẳng biết là vô tình hay cố ý Đỗ Hạnh Linh đang lúc rối trí, chẳng suy nghĩ nhiều đã đáp ngay, bàn tay vẫn không ngừng tìm cách hong khô bức tranh: “Dù không thất đức thì người cũng chết rồi! Những uẩn khúc đời trước chúng ta chưa biết hết, nhưng điều quan trọng là sau khi họ Bùi bị tru di, đất nước càng thêm hưng thịnh. Đối với người dân, quốc thái dân an mới là quan trọng, họ Bùi tranh chấp quyền lực, không suy nghĩ xem dân chúng như thế nào, tru di thì có gì sai.” “Vậy có nghĩa là họ Bùi chính là giặc trong…” - Thục Tư mấp máy môi, nhưng chưa kịp nói hết đã bị cắt ngang. Bên này lo chưa xong, bên kia đã có tiếng chuông điện thoại réo lên ầm ĩ. Thấy vẻ mặt trắng bệch của cô ta, Thục Tư cố nặn ra một nụ cười méo mó. - “Chắc là cấp trên gọi đến đấy, chị ra nghe điện thoại đi, cứ để tranh lại em lau cho.” Đúng, họ Bùi bị chèn ép trong triều như thế nào, dân chúng không hề biết. Thứ họ biết là họ Bùi làm phản, đe dọa tới thái bình của đất nước… Tiếng bước chân đã xa dần, trời bên ngoài cũng đã tối mịt, trong căn phòng lúc này chỉ còn độc cô gái dưới ánh đèn vàng mờ ảo. Thục Tư nhìn bức tranh trên bàn, chậm rãi vuốt vuốt nét mực bút lông kia, khóe miệng không kiềm được mà nở một nụ cười chua xót. Nàng cuối cùng cũng nhìn rõ được khuôn mặt của người này rồi, những hình ảnh mơ hồ trong ký ức cũng dần hiện rõ, tất cả giống như cơn gió ùa về từng đợt. Ha ha, khuôn mặt của hắn vậy mà lại giống hệt người đó. Đây là nghiệt duyên không dứt sao? “Hoàng hậu, người đi rồi vậy cung Phượng Xuân sau này phải làm sao?” - Một giọng nói mơ hồ chợt cất lên, hình như là từ một nơi nào đó cực kỳ xa xôi vọng về. Thục Tư chậm rãi nhắm mắt, giấu đi giọt lệ nóng hổi. Thiếu phụ trong quá khứ ấy hình như bật cười một tràng rồi lạnh lùng đáp lại: “Ta cần gì phải lưu luyến chứ!” Ánh đèn trong phòng làm việc hôm nay sao mà lóa quá, khiến mắt nàng cay cay. Dòng chữ cuối tranh lúc này mới lờ mờ hiện lên rồi bỗng nhiên biến mất. Mí mắt Thục Tư nặng trịch, nhưng cả người lại nhẹ bẫng. Trước mắt nàng có một bóng người nhỏ bé, cất tiếng gọi khe khẽ: “Hoàng hậu…”